Đảm bảo nguồn nước tưới cho sản xuất vụ chiêm xuân

02:02 | 12/02/2018
|

Để thực hiện tốt công tác phục vụ nước tưới sản xuất vụ chiêm xuân 2018, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành NN&PTNT tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt công tác cung cấp nguồn nước gieo cấy vụ chiêm xuân 2018.

Để thực hiện tốt công tác phục vụ nước tưới sản xuất vụ chiêm xuân 2018, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành NN&PTNT tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt công tác cung cấp nguồn nước gieo cấy vụ chiêm xuân 2018. Tuy nhiên, theo dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh có nguy cơ thiếu nước cục bộ khi dưỡng lúa. Để hiểu rõ hơn về tình trạng trên, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn kỹ sư Đinh Gia Thành, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT về vấn đề này.

PV: Đồng chí cho biết khái quát về tình hình nguồn nước tưới phục vụ sản xuất vụ xuân 2018?

 

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn trung ương, vụ đông xuân 2017-2018 có nền nhiệt độ, lượng mưa và dòng chảy trên các sông, suối của các tỉnh phía Bắc thấp hơn năm 2016-2017, đây là những nguyên nhân có thể gây ra tình trạng hạn hán trên địa bàn tỉnh trong vụ xuân 2018.

Trạm bơm Đại Định (Vĩnh Tường) của Công ty TNHH MTV thủy lợi Liễn Sơn bơm hết công suất phục vụ kịp thời nước gieo trồng vụ xuân.

Căn cứ kế hoạch sản xuất vụ xuân năm 2018 của các đơn vị cấp nước, tổng diện tích gieo trồng dự kiến toàn tỉnh đạt 40.498 ha, với lượng nước tưới cần cho cả vụ khoảng 192 triệu m3.

Hiện nay, các trạm bơm ven sông Hồng, sông Lô cung cấp khoảng 20.000 ha đất canh tác, với tổng công suất bơm 112.000 m3/h, như vậy, tổng công suất máy 4.700KWh, các trạm bơm này sẽ cung cấp khoảng 45 triệu m3 (theo lịch xả nước của Tập đoàn điện lực EVN, qua 3 đợt xả, 18 ngày phục vụ tiêu thụ 1,8 triệu KW) đảm bảo đủ nước để đổ ải và gieo cấy vùng tưới bằng trạm bơm.

Khả năng cung cấp nước đến thời điểm hiện nay đạt khoảng 192 triệu m3, trong đó, khả năng cung cấp của các hồ lớn khoảng 70 triệu m3; đập dâng nước Liễn Sơn 50 triệu m3; các hồ đập nhỏ lẻ 12 triệu m3, khe, phai, lạch 5 triệu m3; các trạm bơm lớn, nhỏ khoảng 55 triệu m3. Như vậy, theo tính toán cân bằng nước trên địa bàn phục vụ sản xuất vụ xuân 2018, thì nguồn nước hiện tại trên địa bàn đảm bảo cấp đủ nước cho diện tích gieo trồng.

Tuy nhiên, do nguồn nước phân bố không đồng đều, nên tình trạng hạn, thiếu nước cục bộ vẫn xảy ra ở những vùng không có công trình thủy lợi, hoặc vùng cao cục bộ. Đồng thời, việc cấp nước từ các trạm bơm ven sông phụ thuộc hoàn toàn vào mực nước trên sông.

Do vậy, để chủ động cấp nước, ngành đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các ngành và địa phương tập trung lắp đặt hệ thống trạm bơm điện, dầu dã chiến; nạo vét hệ thống cửa khẩu lấy nước, khoan đào giếng, bơm truyền nhiều cấp...

PV: Nhằm cung cấp đủ nước cho những vùng khó khăn về nguồn nước ngành đã có những giải pháp gì?

Sở NN&PTNT đã chỉ đạo các ngành, địa phương rà soát cụ thể chi tiết từng vùng, từng khu ruộng còn khó khăn về nguồn nước, phải dùng các biện pháp bơm truyền, bơm dã chiến, vùng dự kiến phải chuyển đổi cây trồng do khó khăn về nước tưới thông báo cho nhân dân biết để chủ động. Quyết tâm cấp nước đến từng vùng, từng khu ruộng, đồng thời, dự báo những vùng khó khăn về nguồn nước để người dân chủ động việc gieo trồng, thông báo lịch lấy nước đến từng vùng để người dân lấy nước, cán bộ trạm thủy lợi cơ sở, xí nghiệp, cụm thủy lợi và tổ đặt hàng thường xuyên đôn đốc kiểm tra quá trình lấy nước và cấp nước để điều chỉnh kịp thời; dự báo khả năng nguồn nước có thể cấp, thời gian và biện pháp cấp nước, giúp người dân chủ động trong sản xuất, không bị động về nguồn nước.

PV: Sở NN&PTNT đã có những giải pháp gì để khắc phục những tồn tại trong công tác cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất vụ xuân 2018?

Ngành NN&PTNT tỉnh tiếp tục rà soát, thống kê đánh giá nguồn nước, nhất là nguồn nước từ hồ chứa vừa và nhỏ, từ đó, xây dựng kế hoạch tưới cụ thể, chi tiết cho từng công trình, xứ đồng; điều hành, điều phối các nguồn nước, đảm bảo không bị thiếu nước; phối hợp chặt chẽ với ngành điện, tiến hành xây dựng kế hoạch sử dụng điện, đảm bảo cấp đủ, kịp thời nguồn điện cho hệ thống các trạm bơm hoạt động; có trách nhiệm thông báo kịp thời lịch cấp nước cho các địa phương, để các địa phương và người dân biết chủ động lấy nước.

Quản lý chặt chẽ nguồn nước, tăng cường kiểm tra, rà soát các công trình, kho nước, trạm bơm để sẵn sàng cấp đủ nước cho nhân dân gieo cấy; nghiêm cấm người dân tự ý tháo nước tại các ao, hồ, đầm đánh bắt cá.

Đối với các trạm bơm: Đại Định, Liễu Trì lấy nước từ sông Hồng; các trạm bơm Then I, Cao phong, Bạch Hạc và các trạm bơm nhỏ lấy nước từ sông Lô, sông Phó Đáy. Theo dõi chặt chẽ lịch xả nước của các hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang để chủ động vận hành hết công suất khi mực nước sông lên cao, đảm bảo phục vụ đổ ải và gieo cấy đúng thời vụ.

Xây dựng kế hoạch lắp đặt hệ thống các máy bơm dã chiến ven sông, ven suối, ao đầm... để kịp thời phục vụ đổ ải và phục vụ tưới dưỡng; tiếp tục nạo vét hệ thống các cửa khẩu lấy nước, kênh chính, đầu mối các công trình; thực hiện nghiêm túc việc cấp nước theo lịch gieo trồng; thường xuyên bảo dưỡng máy móc, tu sửa công trình, sửa chữa kịp thời các sự cố, hư hỏng để đảm bảo vận hành tốt khi vào vụ.

Ngành tăng cường các biện pháp tưới tiết kiệm; quản lý chặt chẽ nguồn nước, tránh thất thoát lãng phí nước; tranh thủ khi hệ thống thủy điện xả nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, tập trung vận hành các trạm bơm ven sông, bơm trữ nước vào các sông tiêu, trục tiêu, ao, hồ, đầm.

Ngành NN&PTNT tỉnh tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các huyện, thành, thị phối hợp chặt chẽ với với Công ty TNHH MTV Thủy lợi, chỉ đạo, đôn đốc các địa phương, nhân dân tập trung lấy nước theo lịch cấp nước đảm bảo kịp thời, tránh xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí nước; quản lý chặt chẽ nguồn nước tại các ao, hồ, đầm.

Trên cơ sở lịch cấp nước của các Công ty TNHH MTV Thủy lợi, chỉ đạo các xã, thị trấn có trách nhiệm thông báo đến nhân dân để chủ động lấy nước sản xuất với phương châm “Chủ động, kịp thời, chất lượng, hiệu quả”; tận dụng các nguồn nước tại các khe lạch, hoặc giếng để gieo mạ, hạn chế việc tháo nước tại các hồ chứa làm mạ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các Công ty TNHH MTV Thủy lợi, nạo vét hệ thống kênh mương nội đồng để phục vụ tốt nhất việc cung cấp nước gieo trồng theo đúng khung thời vụ.

Trân trọng cảm ơn đồng chí!

X.H (t/h)