Bài thuốc trị đau liên sườn

08:04 | 17/04/2018
|

Đau liên sườn biểu hiện thường thấy trên lâm sàng là đau hai bên mạng sườn, vùng ngực đầy tức, có khi đau co thắt làm người bệnh khó thở, mặt đỏ mắt đỏ, tiểu vàng lượng ít, miệng đắng, tinh thần không thư thái, đại tiện thất thường khi táo khi lỏng, miệng khô lưỡi đỏ hoặc có những chấm xuất huyết. 

Đau liên sườn biểu hiện thường thấy trên lâm sàng là đau hai bên mạng sườn, vùng ngực đầy tức, có khi đau co thắt làm người bệnh khó thở, mặt đỏ mắt đỏ, tiểu vàng lượng ít, miệng đắng, tinh thần không thư thái, đại tiện thất thường khi táo khi lỏng, miệng khô lưỡi đỏ hoặc có những chấm xuất huyết. Những chứng trạng này có liên quan chặt chẽ đến bệnh ở gan - mật. Nguyên nhân là do sơ tiết điều đạt của can thất thường làm can khí uất kết, lâu ngày làm khí trệ huyết ứ. Mặt khác do can tâm bất túc, kinh mạch không nuôi dưỡng được gây đau sườn. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể lâm sàng.

Đau mạng sườn do can khí uất kết: Người bệnh có biểu hiện đau hai mạng sườn, vùng ngực đầy tức khó chịu, tinh thần bứt rứt, dễ cáu gắt, miệng đắng, mặt và mắt đỏ, ăn uống kém, khi ho thì đau tăng lên, tâm phiền ngủ ít, đi tiểu ít, nước tiểu vàng, có những trường hợp da vàng, tiêu hóa trì trệ, nhức đầu từng cơn, không muốn ăn uống. Phép chữa là sơ can, giải uất, thông lợi gan - mật. Dùng một trong các bài:

 

 

 

 

Bài 1:

bạch truật 16g, bạch thược 16g, bạch linh 12g, sài hồ 16g, ngân hoa 10g, hương phụ 12g, cỏ mần trầu 16g, tang diệp 20g, diệp hạ châu 16g, long đởm thảo 10g, chi tử 10g, thổ phục linh 20g, mơ muối 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can, giải uất, thuận khí giảm đau.

Bài 2: xa tiền 12g, bạc hà 12g, sài hồ 16g, sơn tra 12g, sơn thù 16g, đan bì 10g, chi tử 10g, râu ngô 15g, hương nhu 16g, bạch linh 12g, bạch thược 12g, trần bì 12g, đương quy 16g, hương phụ 12g, cam thảo 12g, chỉ xác 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: lợi gan, thanh nhiệt, sơ can giải uất, hòa trung, thông khí huyết.

Đau mạng sườn do huyết ứ: Người bệnh có biểu hiện đau mạng sườn từng cơn, có khi đau dữ dội, đau thường cố định, không di chuyển, thở mạnh hoặc ho thì càng đau; miệng khô lưỡi đỏ, kèm theo có những chấm xuất huyết; vùng ngực đầy tức, khó thở, người bệnh ăn uống rất ít, toàn thân mệt mỏi, đoản hơi, tiếng nói nhỏ nhẹ, đi tiểu ít, nước tiểu đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác... Phép điều trị là sơ can hóa ứ, thông phủ, thông kinh lạc. Dùng một trong các bài:

Bài 1: cỏ mực 20g, sài hồ 20g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, hương phụ 10g, đại hoàng 6g, đương quy 16g, xuyên sơn giáp 2g, ích mẫu 16g; kê huyết đằng, đinh lăng, đan sâm mỗi vị 15g, sâm đại hành 16g, bạch thược 15g, chỉ xác 5g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: sài hồ sơ can; hồng hoa, tô mộc, kê huyết đằng hoạt huyết hóa ứ; hương phụ hành khí; xuyên sơn giáp làm tan sự tích kết; các vị còn lại bổ trợ và nâng đỡ thể trạng.

Bài 2: sài hồ 16g, trần bì 12g, bạch thược 15g, ích mẫu 16g, hồng hoa 6g, tô mộc 20g, đại hoàng 6g, chỉ xác 8g, đan sâm 16g, đương quy 16g, rau má 20g, xuyên sơn giáp 2g, xuyên khung 12g, đinh lăng 20g, nhân trần 10g, cam thảo 12g, sinh khương 4g, bán hạ chế 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: hoạt huyết hóa ứ, sơ can thuận khí, thông lợi gan mật.

Theo Sức khỏe – Đời sống ngày 16/4/2018

Đông y với bệnh tay chân miệng

Trong Đông y truyền thống, không thấy đề cập đến căn bệnh có tên “thủ - túc - khẩu” (tay - chân - miệng). Tuy nhiên, căn cứ vào những triệu chứng biểu hiện và tình trạng lây lan nhanh thành dịch, các chuyên gia Đông y hiện đại đã xếp bệnh “tay - chân - miệng” vào phạm trù của “Ôn bệnh học”.

Trên lâm sàng, Đông y thường căn cứ vào triệu chứng biểu hiện cụ thể, để phân loại các chứng trạng bệnh và sử dụng vị thuốc, bài thuốc thích hợp, theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” như sau:

Thể thấp độc tập phu:

Khi ở bệnh nhi xuất hiện các chứng trạng: miệng và chân tay xuất hiện những phỏng nước kích thước to nhỏ khác nhau. Bộ phận các phỏng nước nhanh chóng vỡ ra thành vết loét. Kèm theo sốt nhẹ, kém ăn, chất lưỡi đỏ nhạt, mạch phù sác...

Đó là những chứng trạng của loại bệnh lý, mà trong Ôn bệnh học của Đông y gọi là “Thấp độc tập phu” (thấp độc tấn công vào phần da).

Với trường hợp này, có thể sử dụng các vị thuốc, bài thuốc có tác dụng “thanh nhiệt giải độc” và “hóa thấp hoạt huyết” để chữa:

Bài thuốc tiêu biểu (Thanh ôn bại độc ẩm gia giảm): dùng sinh thạch cao (thạch cao chưa nung) 30g, sinh địa hoàng 10g, sừng trâu 20g, hoàng liên 8g, chi tử 10g, huyền sâm 12g, đan bì 10g, tiên trúc diệp (lá tre tươi) 5g, cát cánh 6g, cam thảo 5g; Sắc nước uống trong ngày.

Thể thấp nhiệt uẩn kết:

Nếu ở bệnh nhi xuất hiện các chứng trạng: mặt, lưng hoặc chung quanh các móng ở ngón chân, ngón tay và gót chân, bàn chân, bàn tay xuất hiện nhiều nốt phỏng nước kích cỡ khác nhau, nốt nhỏ cỡ như hạt gạo, nốt to cỡ như hạt đậu; kèm theo miệng loét, hơi thở hôi, trướng bụng, kém ăn, phiền khát, đại tiện táo kết, tiểu tiện sẻn đỏ hoặc tiểu đục, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng nhớt, mạch nhu sác.

Đó là những chứng trạng của loại bệnh lý, mà trong Ôn bệnh học của Đông y gọi là “Thấp nhiệt uẩn kết” (thấp tà và nhiệt tà tích đọng).

Để chữa trị có thể sử dụng những vị thuốc, bài thuốc có tác dụng “thanh hóa thấp nhiệt” và “giải độc” để chữa.

Bài thuốc tiêu biểu (Tả hoàng thang gia giảm): dùng hoắc hương 20g, chi tử (dành dành) 6g, sinh thạch cao 15g, nhẫn đông đằng 12g, kinh giới 8g, sinh cam thảo 6g; sắc nước uống trong ngày.

Thể tâm tỳ tích nhiệt:

Nếu thấy ở bệnh nhi xuất hiện các chứng trạng: trong khoang miệng và vòm khẩu cái có nhiều mụn nước, da quanh mụn ửng đỏ, đầu các ngón chân, ngón tay cũng xuất hiện nhiều mụn nước hoặc vết loét; kèm theo miệng khô khát nước, tiểu tiện sẻn đỏ; lưỡi ít rêu hoặc rêu lưỡi mỏng; mạch tế sác.

Đó là những biểu hiện của chứng “Tâm tỳ tích nhiệt” (nhiệt tích ở các tạng tâm, tỳ).

Có thể sử dụng những vị thuốc, bài thuốc có tác dụng “thanh tả tâm tỳ” và “lợi niệu giải độc” để chữa.

Mộc thông

Mộc thông

Bài thuốc tiêu biểu (Đạo xích tán gia giảm): dùng mộc thông, sinh địa, cam thảo, trúc diệp (lá tre), xa tiền tử, đăng tâm thảo, liên tử tâm... mỗi thứ 3 - 5g, sắc nước uống.

Việc sử dụng Đông Nam dược để phòng trị hoặc hỗ trợ trị liệu tại nhà, cần tiến hành dưới sự hướng dẫn, giám sát chặt chẽ của các thầy thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền có uy tín. Nếu thấy ở trẻ có những biểu hiện lạ, cần đưa ngay đến bệnh viện, để xử lý một cách kịp thời.

Theo Sức khỏe – Đời sống ngày 16/4/2018